Vượn đen má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae) là một loài vượn (họ Hylobatidae – các loài “vượn nhỏ”), đặc hữu của vùng Đông Dương. Ngày nay loài này phân bố ở miền Nam Việt Nam và vùng Đông Nam Campuchia, và trong quá khứ còn được ghi nhận ở một phần miền Nam Lào [1,2,5]. Loài được mô tả lần đầu năm 1909 và được đặt tên theo nhà tự nhiên học người Anh Gabrielle Maud Vassal [6]. Trước đây, đây là loài vượn má vàng duy nhất được công nhận; đến năm 2010, việc mô tả loài vượn má vàng phía Bắc (Nomascus annamensis) đã tách vùng phân bố cũ thành hai, phần quần thể phía Nam giữ nguyên tên gọi ban đầu [1,2]. Giống như tất cả các loài vượn, chúng nổi tiếng nhờ khả năng chuyền cành điêu luyện và tiếng hót song ca vang xa mà các cặp đôi thực hiện vào lúc bình minh [1].

Tên gọi khác
Tiếng Anh: Southern yellow-cheeked crested gibbon, red-cheeked gibbon, buff-cheeked / buffy-cheeked gibbon, golden-cheeked gibbon [2,6].
Tiếng Việt: Vượn đen má vàng (Nam), vượn má vàng (Nam), vượn đen má hung (Nam) [9,12].
NGOẠI HÌNH
Mặc dù trông giống khỉ, nhưng vượn thực chất là loài vượn người (ape) và, giống như các loài vượn người lớn (great apes), chúng không có đuôi. So với những họ hàng vượn người lớn, vượn có kích thước cơ thể nhỏ đáng kể – một sự thích nghi với đời sống gần như hoàn toàn trên tán rừng [1].
Vượn đen má vàng phía Nam có một trong những kiểu biến đổi màu lông ấn tượng nhất trong thế giới linh trưởng, thay đổi theo cả độ tuổi lẫn giới tính. Tất cả con non khi mới sinh đều có bộ lông màu vàng nhạt (buff). Đến khoảng sáu tháng tuổi, lông chuyển sang màu đen. Con đực giữ bộ lông đen này suốt đời, trong khi con cái chuyển ngược lại thành màu vàng hoặc vàng nhạt khi trưởng thành [1,11]. Con đực trưởng thành có hai mảng má màu vàng đặc trưng của loài – ở một số cá thể có thể ngả cam hoặc hơi đỏ – phần ngực có thể phớt màu nâu đỏ nhạt; trên đỉnh đầu có một chỏm lông dựng đứng. Con cái trưởng thành có màu vàng đến vàng nâu đỏ và thường giữ một mảng lông màu nâu sẫm hoặc đen trên đỉnh đầu [1,3].

Sự khác biệt về kích thước giữa hai giới rất nhỏ. Cá thể trưởng thành nặng khoảng 5–12 kg (một số nguồn ghi 6–11 kg); con đực dài khoảng 45–50 cm phần đầu-thân, con cái khoảng 46–48 cm [1,5]. Vượn là bậc thầy thực thụ của kiểu chuyền cành (brachiation), và cơ thể chúng được cấu tạo cho việc này: khớp cổ tay dạng chỏm cầu, khớp vai xoay được trọn 360 độ, cánh tay rất dài, bàn tay hình móc câu và ngón cái thu nhỏ – tất cả kết hợp lại giúp chúng chuyền qua tán rừng với tốc độ và khả năng kiểm soát vượt trội [1]. Các loài vượn mào rất khó phân biệt trong tự nhiên, và hai mảng má của con đực thường là đặc điểm nhận dạng đáng tin cậy nhất [1].
PHÂN BỐ ĐỊA LÝ VÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG
Vượn đen má vàng phía Nam là loài đặc hữu của Đông Dương. Sau lần tách loài năm 2010, vùng phân bố được xác nhận của chúng nhỏ hơn so với trước đây, bao gồm miền Nam Việt Nam và vùng Đông Nam Campuchia (phía đông sông Mê Kông) [1,2]. Ở Việt Nam, vùng phân bố trải dài từ khoảng sông Ba (khoảng 13°B, thuộc các tỉnh Gia Lai và Phú Yên) xuống đến Khu Bảo tồn Thiên nhiên Núi Ông (khoảng 11°B, tỉnh Bình Thuận) [2].
Loài vượn sống trên cây này ưa thích rừng thường xanh và bán thường xanh cao tán, thường ở độ cao lên tới khoảng 1.500–2.000 m [1,3,5]. Tại Việt Nam, loài được ghi nhận ở nhiều khu bảo vệ, trong đó có Vườn quốc gia Cát Tiên (Nam Cát Tiên), Vườn quốc gia Chư Yang Sin và Vườn quốc gia Bù Gia Mập, cũng như tại các tỉnh như Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Khánh Hòa và Đồng Nai [10,11,12].
Chưa có con số tổng thể được xác nhận cho toàn loài. Quần thể lớn nhất được biết đến được cho là ở Khu bảo tồn Seima của Campuchia, nơi một báo cáo của Wildlife Conservation Society ước tính có khoảng 2.500 cá thể [9]. Tại Việt Nam, một cuộc khảo sát bằng phương pháp bắt-thả qua tiếng hót ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin đã ghi nhận 28 đàn vượn [7].

CHẾ ĐỘ ĂN
Vượn đen má vàng phía Nam là loài ăn quả (frugivore) rõ rệt, đặc biệt ưa thích quả sung (figs). Nghiên cứu thực địa về tập tính kiếm ăn cho thấy riêng quả sung chiếm khoảng 39% thời gian kiếm ăn, còn các loại quả khác chiếm khoảng 43% [1,3,4]. Do quả không có quanh năm nên khẩu phần thay đổi theo mùa: khi khan hiếm quả, vượn chuyển sang ăn lá non và lá già, hoa, các bộ phận khác của cây, dây leo và thực vật phụ sinh, cùng một số thức ăn động vật như côn trùng và trứng chim [1,5]. Nhìn chung, các đàn ăn nhiều quả hơn vào mùa mưa so với mùa khô [1].
LỐI SỐNG (TẬP TÍNH)
Vượn đen má vàng phía Nam hoạt động ban ngày và gần như sống hoàn toàn trên cây, cư trú ở tầng tán cao và hiếm khi xuống mặt đất [1]. Chúng di chuyển chủ yếu bằng cách chuyền cành – đu người bằng tay dưới các cành cây – với tốc độ và sự nhanh nhẹn đáng kinh ngạc, được ghi nhận có thể đạt tới khoảng 56 km/h; chúng cũng đi thẳng đứng trên cành nhiều hơn bất kỳ loài vượn hoang dã nào khác [1].
Loài có tính lãnh thổ và thường dậy rất sớm. Vào khoảng bình minh, các cặp đôi cùng nhau hót song ca, tiếng hót có thể vang xa tới khoảng một ki-lô-mét. Những tiếng hót đầy ám ảnh này giúp cặp đôi tìm lại nhau sau một đêm ngủ tách biệt, củng cố mối liên kết và cảnh báo các cá thể vượn lân cận tránh xa [1]. Phần của con cái là chuỗi các nốt cao dần, đạt đỉnh ở một “tiếng hót lớn” (great call) nhanh và dồn dập, trong khi con đực tạo ra những đoạn hót riêng biệt của mình; con đực non chỉ bắt đầu phát tiếng hót kiểu con đực khi ở giai đoạn bán trưởng thành [1]. Ngoài tiếng hót, vượn còn giao tiếp qua biểu cảm khuôn mặt, ngôn ngữ cơ thể và hành vi chải lông cho nhau, giúp thắt chặt liên kết trong gia đình [1].
SINH SẢN VÀ GIA ĐÌNH
Vượn đen má vàng phía Nam sống thành các gia đình nhỏ theo chế độ một vợ một chồng về mặt xã hội, thường gồm một cặp đôi cùng với tối đa khoảng bốn con non [1]. Mối liên kết đôi thường kéo dài suốt đời nhưng đôi khi cũng có thể tan vỡ; mặc dù các cặp đôi chung thủy về mặt xã hội, chúng có thể không hoàn toàn chung thủy về mặt sinh sản [1]. (Như một ngoại lệ so với khuôn mẫu thông thường, một đàn có nhiều con cái sinh sản đã được ghi nhận ở miền Đông Campuchia [8].)
Sau khi giao phối, con cái mang thai khoảng bảy tháng và thường sinh một con non duy nhất; con non có màu vàng nhạt và bám chặt vào mẹ, hòa lẫn vào bộ lông sáng màu của mẹ [1]. Cả bố và mẹ đều đầu tư nhiều công sức nuôi con, và con mẹ giãn cách các lần sinh sao cho con lớn đã tương đối tự lập trước khi sinh con tiếp theo. Con non đạt độ tuổi trưởng thành sinh dục vào khoảng bảy đến tám năm tuổi, cũng là thời điểm chúng rời đàn gốc để tìm bạn đời riêng [1]. Dù tuổi thọ ngoài tự nhiên chưa được ghi nhận đầy đủ, vượn có thể sống hơn 30 năm trong tự nhiên và tới khoảng 50 năm trong điều kiện nuôi nhốt [1,5].
VAI TRÒ SINH THÁI
Là loài chuyên ăn quả, vượn đen má vàng phía Nam đóng vai trò quan trọng trong việc phát tán hạt giống. Hạt từ quả mà chúng ăn đi qua hệ tiêu hóa mà vẫn nguyên vẹn, rồi được thải ra theo phân, thường ở nơi cách xa cây mẹ. Quá trình “gieo hạt” liên tục này giúp tái sinh rừng và duy trì sự đa dạng thực vật [1].
TÌNH TRẠNG VÀ NỖ LỰC BẢO TỒN
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) xếp vượn đen má vàng phía Nam vào nhóm Nguy cấp (Endangered), và quần thể của loài đang suy giảm [1,2]. Loài được liệt kê trong Phụ lục I của CITES, nghĩa là hoạt động buôn bán quốc tế vì mục đích thương mại về cơ bản bị cấm [1,3]. Ở Việt Nam, loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam ở mức Nguy cấp và được bảo vệ nghiêm ngặt thuộc nhóm IB theo pháp luật quốc gia (trước đây theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP, và hiện được liệt kê trong nhóm IB theo Thông tư 27/2025) [3,12]; loài cũng được pháp luật Campuchia bảo vệ [1].
Mối đe dọa lớn nhất là mất và chia cắt sinh cảnh. Vì vượn phụ thuộc vào tán rừng liên tục để di chuyển, ngay cả một con đường hẹp cũng có thể tạo ra khoảng trống mà chúng không thể vượt qua, buộc chúng phải nhảy liều lĩnh hoặc xuống đất đầy nguy hiểm; sự chia cắt cũng làm cô lập các đàn, gia tăng xung đột và làm giảm đa dạng di truyền [1]. Loài còn bị săn bắt để lấy thịt và làm thuốc truyền thống, và – gây tổn hại nặng nề nhất – để phục vụ nạn buôn bán thú cưng: những kẻ săn trộm nhắm vào con non và hầu như luôn giết con mẹ (và thường cả con bố) để bắt được một con non [1,11]. Vượn bị nuôi nhốt còn bị dùng để mua vui cho du khách và bị chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội, khiến việc nuôi linh trưởng làm thú cưng trở nên bình thường hóa [1]. Sự chưa rõ ràng về phân loại và việc thực thi thiếu nhất quán các quy định bảo vệ hiện hành càng làm tăng thêm khó khăn cho công tác bảo tồn loài [1].
Nhiều sáng kiến đang nỗ lực bảo vệ loài này. Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Đảo Tiên (Dao Tien), thành lập tại Vườn quốc gia Cát Tiên năm 2008, cứu hộ và phục hồi loài này (cùng các loài linh trưởng bản địa khác) và tổ chức các chương trình giáo dục cũng như tour quan sát vượn cho người dân và du khách [1]. Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng Nguy cấp tại Vườn quốc gia Cúc Phương phục hồi các cá thể vượn bị tịch thu và bị săn trộm, đồng thời tuyên truyền cho cộng đồng, dù trung tâm nằm ngoài vùng phân bố tự nhiên của loài [1,3]. Gần đây, một nhóm bảo tồn do phụ nữ dẫn dắt, được hỗ trợ bởi chương trình “Trao quyền cho phụ nữ ngành bảo tồn” của Trung tâm Hành động vì Động vật hoang dã Việt Nam (WildAct), đã bắt đầu giám sát quần thể tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin thông qua các đợt khảo sát tiếng hót lúc bình minh từ cuối năm 2024 [10]. IUCN nhấn mạnh sự cần thiết của việc tuần tra chặt chẽ hơn, luật kiểm soát súng nghiêm ngặt hơn, thực thi nhất quán, cùng công tác cứu hộ, phục hồi và tái thả liên tục [1].

TÀI LIỆU THAM KHẢO
- New England Primate Conservancy. (n.d.). Southern Yellow-Cheeked Crested Gibbon, Nomascus gabriellae. Written by Z. Lussier, 2020, revised 2023. https://neprimateconservancy.org/southern-yellow-cheeked-crested-gibbon/
- Rawson, B.M., Hoang, M.D., Roos, C., Van, N.T. & Nguyen, M.H. 2020. Nomascus gabriellae. The IUCN Red List of Threatened Species 2020: e.T128073282A17968950. https://www.iucnredlist.org/species/128073282/17968950
- Endangered Primate Rescue Center. (n.d.). Southern Yellow-Cheeked Gibbon – Nomascus gabriellae. https://www.eprc.asia/southern-yellow-cheeked-gibbon/
- Bach, T.H., Chen, J., Hoang, M.D., Beng, K.C. & Nguyen, V.T. (2017). Feeding behavior and activity budget of the southern yellow-cheeked crested gibbons (Nomascus gabriellae) in a lowland tropical forest. American Journal of Primatology, 79: e22667.
- Quist, E. (n.d.). Nomascus gabriellae (red-cheeked gibbon). Animal Diversity Web, University of Michigan. https://animaldiversity.org/accounts/Nomascus_gabriellae/
- Yellow-cheeked gibbon. Wikipedia. https://en.wikipedia.org/wiki/Yellow-cheeked_gibbon
- Vu, T.T., Tran, D.V., Giang, T.T., et al. (2016). A mark-recapture population size estimation of southern yellow-cheeked crested gibbon Nomascus gabriellae in Chu Yang Sin National Park, Vietnam. Asian Primates Journal, 6: 33–42.
- Barca, B., Vincent, C., Soeung, K., Nuttall, M. & Hobson, K. (2016). Multi-female group in the southernmost species of Nomascus: field observations in Eastern Cambodia… Asian Primates Journal, 6: 15–19.
- Vượn đen má vàng Nam. Wikipedia tiếng Việt. https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%E1%BB%A3n_%C4%91en_m%C3%A1_v%C3%A0ng_Nam
- Thanh Niên. (2025, 26 April). “Nữ đặc nhiệm” bảo tồn vượn đen má vàng giữa rừng sâu Chư Yang Sin. https://thanhnien.vn/nu-dac-nhiem-bao-ton-vuon-den-ma-vang-giua-rung-sau-chu-yang-sin-185250424013802939.htm
- WANEE Vietnam. (2022). Nam Cát Tiên – Nơi cư trú loài Vượn đen má vàng quý hiếm tại Việt Nam. https://wanee.vn/nam-cat-tien-noi-cu-tru-loai-vuon-den-ma-vang/
- Báo Pháp Luật TP.HCM. (2025). TP.HCM: Vượn má vàng quý hiếm… (nhóm IB, Thông tư 27/2025). https://plo.vn/tphcm-vuon-ma-vang-quy-hiem-song-sot-o-khu-dan-cu-nho-nguoi-dan-cho-an-post869263.html
- Nguyễn Đình Duy, Trịnh Đình Hoàng, Nguyễn Vĩnh Thanh, Hà Thăng Long, 2023. Nomascus gabriellae. Danh lục Đỏ Việt Nam. MM24

