Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) là một loài linh trưởng quý hiếm đặc hữu của Việt Nam thuộc chi Trachypithecus (Voọc mào hoặc Voọc núi đá vôi).

 

Các tên gọi khác:

  • Tiếng Anh: Cat Ba hooded black leaf monkey, golden-headed langur, và Tonkin hooded black langur.
  • Tiếng Việt: Voọc Cát Bà, Voọc đầu trắng, Voọc đen đầu vàng, Voọc đầu vàng.

 

A troop of Cat Ba langur. Photo by HiVOOC.
Một đàn Voọc Cát Bà. Ảnh: HiVOOC.

 

NGOẠI HÌNH

 

Voọc Cát Bà được bao phủ bởi lớp lông màu nâu sẫm đến đen. Khuôn mặt của chúng có màu tối, bao quanh bởi những sợi lông màu vàng nhạt và cam vàng mọc hướng lên trên, tạo thành một chiếc mào trên đầu. Các cá thể con (voọc non) có bộ lông màu cam vàng rực rỡ, tạo nên sự tương phản rõ rệt với cơ thể đen sẫm của con trưởng thành. Đặc điểm này được cho là để thúc đẩy hành vi “alloparenting” (chăm sóc hộ) – một hình thức chăm sóc trẻ được thực hiện bởi các con trưởng thành khác trong nhóm ngoài cha mẹ ruột. Vẻ ngoài màu cam sáng giúp con trưởng thành giám sát voọc non dễ dàng hơn khi di chuyển hoặc nghỉ ngơi. Bộ lông sau đó sẽ chuyển sang màu đen khi chúng được khoảng một năm rưỡi tuổi. Đặc điểm độc đáo này đã được áp dụng như một phương pháp xác định độ tuổi để ước tính tuổi của các cá thể voọc từ khi mới sinh đến khi trưởng thành hoàn toàn [4].

 

Voọc Cát Bà cũng có chiếc đuôi dài đáng kinh ngạc, có thể đạt tới 70 cm. Tuy nhiên, giống như các loài voọc khác, đuôi của chúng không có khả năng cầm nắm, nghĩa là không thể dùng để bám hoặc giữ vật thể.

 

Cat Ba langurs possess a dense dark coat and a distinctive golden-orange crest on the head. Photo by HiVOOC.
Voọc Cát Bà sở hữu lớp lông đen dày và chiếc mào màu vàng cam đặc trưng trên đầu. Ảnh: HiVOOC.

 

A female Cat Ba langur and its baby in orange fur. Photo by HiVOOC.

 

A female Cat Ba langur and its baby in orange fur. Photo by HiVOOC.
Một con Voọc Cát Bà cái và con non với bộ lông màu cam. Ảnh: HiVOOC.

 

Voọc Cát Bà có bàn tay và bàn chân năm ngón, giúp chúng cực kỳ khéo léo khi di chuyển ở những khu vực hiểm trở như vách đá trên đảo. Chiều dài đầu và thân dao động từ 50–60 cm ở con cái và 55–65 cm ở con đực. Trọng lượng trung bình khoảng 6–9,5 kg, và chiều dài đuôi từ 78–90 cm [5]. Cả hai giới đều có bộ lông đen dày và màu vàng cam trên đầu; tuy nhiên, con cái có các mảng lông màu sáng ở vùng bẹn, đây là dấu hiệu trực quan chính để phân biệt giới tính [4].

 

PHÂN BỐ ĐỊA LÝ VÀ MÔI TRƯỜNG SỐNG

 

Là loài đặc hữu của Việt Nam, Voọc Cát Bà chỉ phân bố duy nhất tại đảo Cát Bà, một trong 366 hòn đảo thuộc quần đảo Cát Bà, miền Bắc Việt Nam, nơi chúng sinh sống trong các khu rừng trên núi đá vôi. Chúng bị giới hạn trong phạm vi diện tích 22 $km^2$, khiến chúng dễ bị tổn thương trước hoạt động du lịch thiếu bền vững và các hoạt động khác của con người như săn bắn trái phép.

 

Geographic range of Cat Ba langur in Cat Ba Island, one of Cat Ba Archipelago’s 366 islands, in northern Vietnam.
Phạm vi địa lý của Voọc Cát Bà tại đảo Cát Bà, một trong 366 hòn đảo thuộc quần đảo Cát Bà, miền Bắc Việt Nam.

 

A skyview of a floating fishing village in Lan Ha Bay captured by a guide on the boat. Photo by HiVOOC.
Góc nhìn từ trên cao của một làng chài nổi trên vịnh Lan Hạ được chụp bởi một hướng dẫn viên trên thuyền. Ảnh: HiVOOC.

 

CHẾ ĐỘ ĂN

 

Voọc Cát Bà là loài ăn lá, vì vậy chúng chủ yếu ăn lá cây, thỉnh thoảng ăn trái cây và hoa. Các nghiên cứu chỉ ra rằng hơn 80% chế độ ăn của Voọc Cát Bà là lá, tiếp theo là hoa (8%), trái cây (6%) và vỏ cây (3%) [2]. 

 

Do môi trường sống bao quanh bởi biển, Voọc Cát Bà cũng đã tiến hóa để thích nghi bằng khả năng uống nước mặn, một đặc điểm độc đáo giúp phân biệt Voọc Cát Bà với các loài voọc khác [1][7].

 

Tỷ lệ phần trăm trong chế độ ăn của Voọc Cát Bà.
Tỷ lệ phần trăm trong chế độ ăn của Voọc Cát Bà.

 

HÀNH VI VÀ LỐI SỐNG

 

Voọc Cát Bà là loài hoạt động ban ngày, nghĩa là chúng dành phần lớn thời gian vào ban ngày để hoạt động và ngủ đêm trên các vách đá hoặc trong hang động. Chúng cũng là có thể ở cả trên mặt đất lẫn trên cây.

 

Chúng sống thành các nhóm xã hội nhỏ khoảng sáu cá thể. Các nhóm chủ yếu bao gồm một con đực với nhiều con cái, tuy nhiên cũng có ghi nhận về các nhóm cùng giới tính và các cá thể đực độc thân.

 

Về giao tiếp, Voọc Cát Bà giao tiếp thông qua tiếng vang cùng các hình thức khác như tư thế cơ thể và biểu cảm khuôn mặt. Loài này cũng tham gia vào hoạt động chải chuốt cho nhau để thắt chặt mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm [5].

 

A Cat Ba langur family.
Một gia đình Voọc Cát Bà.

 

SINH SẢN VÀ GIA ĐÌNH

 

Thời gian mang thai khoảng 200 ngày; con cái thường chỉ sinh một con duy nhất. Voọc non được nuôi dưỡng bởi mẹ cùng các con cái khác trong nhóm, một hành vi được gọi là “allomothering” (chăm sóc hộ) như đã đề cập trước đó.

 

VAI TRÒ SINH THÁI

 

Do sống biệt lập với đất liền, Voọc Cát Bà không có kẻ thù tự nhiên săn đuổi. Loài này được tin là đóng vai trò then chốt trong việc phát tán hạt giống khi chúng phân tán các hạt chưa tiêu hóa từ trái cây thông qua phân, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thảm thực vật trên đảo.

 

Cat Ba langur contributes greatly to Vietnam’s and the world’s biodiversity. Photo by HiVOOC’s customers Frank and Petra.Voọc Cát Bà đóng góp to lớn vào đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới. Ảnh chụp bởi khách hàng của HiVOOC: Frank và Petra.

 

TÌNH TRẠNG BẢO TỒN

 

Hiện nay, Voọc Cát Bà được liệt kê là Cực kỳ Nguy cấp (IUCN Red List). Loài này cũng nằm trong Phụ lục I của CITES, Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, và Nhóm IB của Nghị định số 84/2021/NĐ-CP do Chính phủ ban hành [6].

 

Với ít hơn 80 cá thể còn lại trong tự nhiên, Voọc Cát Bà được coi là một trong những loài linh trưởng hiếm nhất thế giới. Chúng đang phải đối mặt với nhiều mối đe dọa bao gồm phá rừng, du lịch thiếu bền vững, săn bắn lấy thịt và làm thuốc, mất môi trường sống và chia cắt sinh cảnh [1][2].

 

Ngoài ra, vì số lượng cá thể đã giảm xuống mức thấp ước tính khoảng 80 con, chúng có thể đối mặt với tình trạng suy giảm do cận huyết, dẫn đến giảm đa dạng di truyền, khiến chúng dễ mắc bệnh và giảm khả năng sinh tồn, nhấn mạnh tầm quan trọng ngày càng lớn của việc bảo tồn loài vật hùng vĩ này.

 

As the total population is under 100 individuals and intensely isolated on Cat Ba Island, more conservation efforts must be made to ensure the long-term survival of Cat Ba langur. Photo by HiVOOC.
Vì tổng quần thể dưới 100 cá thể và bị biệt lập hoàn toàn trên đảo Cát Bà, cần nhiều nỗ lực bảo tồn hơn nữa để đảm bảo sự sống sót lâu dài của loài. Ảnh: HiVOOC.

 

NỖ LỰC BẢO TỒN

 

Để bảo vệ Voọc Cát Bà khỏi bờ vực tuyệt chủng, Dự án Bảo tồn Voọc Cát Bà (CBLCP), được điều hành bởi Vườn thú Münster và Vườn thú Leipzig tại Đức, đã được thành lập vào tháng 11 năm 2000 [3][5][7]. Dự án tập trung vào bảo vệ, nghiên cứu và giáo dục để bảo tồn Voọc Cát Bà cũng như các loài khác nhằm duy trì đa dạng sinh học của quần đảo Cát Bà. Thêm vào đó, việc thực thi pháp luật nghiêm ngặt chống săn trộm và hủy hoại môi trường sống cần được tăng cường, đồng thời có thể thực hiện tái định cư các cá thể giữa các quần thể nhỏ để tăng cường đa dạng di truyền, đảm bảo sự tồn tại của Voọc Cát Bà trong tương lai.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cat Ba Langur. Endangered Primate Rescue Center.

2. Hendershott, Rebecca & Behie, Alison & Rawson, Benjamin. (2017). Seasonal Variation in the Activity and Dietary Budgets of Cat Ba Langurs (Trachypithecus poliocephalus). International Journal of Primatology. 37. 10.1007/s10764-016-9923-z.

3. iNaturalist. (n.d.). Trachypithecus poliocephalus.

4. Nadler T. (2020). The development of pelage coloration in Cat Ba langurs (Trachypithecus poliocephalus). Vietnamese Journal of Primatology, 3(2): 23-37.

5. New England Primate Conservancy. (n.d.). Cat Ba Langur, Trachypithecus poliocephalus. Retrieved March 26, 2026, from https://neprimateconservancy.org/cat-ba-langur/

6. Nguyễn Đình Duy, Trịnh Đình Hoàng, Nguyễn Vĩnh Thanh, Hà Thăng Long, 2023. Trachypithecus poliocephalus. Danh lục Đỏ Việt Nam. MM21

7. John R. Platt. (2015, August 31). The Cat Ba langur: A primate walks the razor’s edge of extinction. Mongabay. https://news.mongabay.com/2015/08/the-cat-ba-langur-a-primate-walks-the-razors-edge-of-extinction/

 

LE QUANG